Họa sĩ Phạm Tăng

Họa sĩ Phạm Tăng nổi tiếng trong các lãnh vực Hội Họa, Trang Trí, Ðiêu Khắc, Thiết Kế Sân Khấu, vừa qua đời vào lúc 9 giờ 20 phút sáng ngày Thứ Hai, 9 Tháng Giêng, 2017, tại Paris, hưởng thọ 93 tuổi. Em ruột cụ Phạm Tăng là ông Phạm Hoán xác nhận tin này với bà Ðỗ Ngọc Yến của báo Người Việt.
Họa sĩ Phạm Tăng sinh năm 1924 tại Ninh Bình-Bắc Việt, học ngành Kiến Trúc trước khi chuyển sang hội họa ở trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương. Vẽ hí họa cho nhật báo Tự Do từ 1954 tới 1959, tuần báo Văn Nghệ Tự Do năm 1956. Một số hí họa châm biếm trên Tự Do và Văn Nghệ Tự Do của ông đã khiến ông bị bắt, giam ở khám Catinat một thời gian ngắn. Ðược xuất ngoại học thêm năm 1959, ông lấy được bằng tốt nghiệp của hầu hết các khoa ở Viện Mỹ Thuật La Mã (Accademia de Belle Arti di Roma): Hội Họa, Trang Trí, Ðiêu Khắc, Thiết Kế Sân Khấu. Ông được giải nhất về Hội Họa của tổ chức UNESCO với bức tranh “Vũ Trụ” năm 1967, và nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng khác.
                                                                                                   (Trích Người Việt online January 9, 2017)

Họa sĩ Phạm Tăng

Tranh Tết Con Trâu 1973 của Phạm Tăng. (Hình: Phạm Lệ Hương)
  

  
PHẠM TĂNG, còn vài điều muốn kể…

Ai nào hiểu được nỗi lòng cho ai!
pnk

Với mấy người vẫn tới lui hoặc điện đàm, có lẽ anh Phạm Tăng chỉ còn hai hay ba đứa tụi tôi để có dịp giãi bày tâm sự cho vơi nỗi buồn lúc cuối đời. Bây giờ nói ra điều đó dễ bị chụp cho cái thói thấy sang bắt quàng làm họ…bởi tụi tui hơi bị vô danh, vô giá nên chỉ muốn ký bằng họ là Nguyễn, là Phạm, là Phan…còn tên thì xin miễn.    
Đau lòng là lúc anh vĩnh viễn ra đi, lũ chúng tôi, do tuổi tác với thân xác mỏi mòn, thời tiết khắc nghiệt…nên không đứa nào tới được để đưa tiễn anh, chia buồn cùng chị và tang quyến!  

Sự thể anh ra đi là mang lại bao đau buồn, thương tiếc nơi những người thân…Nhưng xin thành thực thú nhận là lũ tôi, khi trao đổi với nhau, đều có lời mừng cho anh! Xa lìa cõi tạm này vào lúc này như vậy là anh đã thoát ra khỏi cái vòng ‘sinh diệt, hữu hạn chật hẹp’ mà anh không ngớt bực bội than phiền cùng bạn bè xa gần…

Tò mò, hỏi anh về nguồn gốc phương pháp tạo hình độc đáo đã làm anh nổi tiếng từ lúc sống ở Rôma. Anh đáp: do học bổng nghèo nàn, nên phải tá túc ở trụ sở của giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu tại Rô-ma. Ở đấy anh thường đùa rỡn đối nghịch với tư tưởng, lý luận của mấy ‘ông cha nhà thờ (linh mục công giáo)…để rồi có thói quen suy nghĩ sâu trước khi hành động. Và từ đó nảy sinh phương pháp tạo hình khác người…nhái theo Hóa-công. 
Nói đùa, nhưng mà là nói rất thật, rằng anh đã khám phá ra những mâu thuẫn tàn nhẫn hằng có trong cõi sống chung quanh từ khi anh chập chững bước vào đời qua cánh cổng trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương... Rồi tới khi đã trưởng thành về mặt nghệ thuật, đã thành danh ở thủ đô Rô-ma của nước Ý-đại-lợi, đã khảng định được con đường sáng tác của mình là là con đường sáng tạo tự do như của Thượng Đế, của ông Trời…! ‘ Tôi thường đùa với mấy ông linh mục rằng tôi muốn bắt chước ông Trời khi ông ta sáng lập vũ trụ với muôn loài…theo như sách ‘Genèse (sáng thế ký)…’.

Anh giải thích : ‘’Nghệ thuật hội họa của tôi là đường nét, là màu sắc do chúng tự sinh ra trong tự do chứ không bị tạo thành trong gò bó, không bị sao chép theo những khuôn mẫu đã có, đã thấy…Cứ như thế, tranh tôi sáng tác, không ép người xem phải cảm thấy, cảm nhận đúng theo những gì tôi muốn…y như khi đứng trước thiên nhiên của tạo hóa, mọi người đều tự do cảm xúc tùy theo mỗi nhỡn quan, mỗi trình độ…Người nhìn ngắm tranh của tôi được tự ý tham gia vào sự sáng tạo của bức tranh…theo ý niệm, trình độ kiến thức và sức tưởng tượng của mình...’’.
Phạm Tăng phủ định: ‘’Những búc tranh tôi vẽ hồi ở trong nước không do tôi sáng tác, vì đó chỉ là nhai lại những gì phương Tây đã nhả ra theo thầy này, thầy nọ, theo trường phái này, trường phái nọ đã có, đã nổi danh, nghĩa là đã được công nhận như với những ‘’môn bài’’ đã được cấp bởi phương Tây…!  Những người đã sắp nghệ thuật hội họa của tôi theo một môn phái, hoặc tự đặt cho tôi một môn phái mới …đều không hiểu thấu được ý niệm, tâm thức tự do sáng tác của tôi. Tôi không hề mưu tính lập một môn phái nào, dù là nó là tiên tiến, hiện đại hay hậu hiện đại…Một chiếc lá, một bông hoa trên cành, hay đã rụng xuống…thì đường nét của chúng, màu sắc của chúng lúc đó là theo trường phái nào vậy ?!’’. Bởi thế tranh của tôi là một tiến trình thai nghén, là engendrer, chứ không phải là tạo thành…như không biết trước nó sẽ có những nét cong, đường thẳng như thế nào, những sắc mầu nguyên chất tinh khiết hay cuốn quyện, pha lẫn, nhạt nhòa vào nhau như thế nào. Chúng không bị áp đặt đâu là trên, đâu là dưới, đâu là đầu, đâu là đuôi… Chúng tự bùng phát, biến hóa ra theo một trình tự tự do như tình cờ mà lại y như là theo một qui luật rất lô-gích, rất tuần hoàn…như do một sắp đặt khéo léo của hóa công, của ông Trời. Hóa công ấy, ông Trời ấy là Tôi!’’ 
Giải thích tới đó, Phạm Tăng cười, cười lớn tiếng, cười hồn nhiên vui tươi  như đứa trẻ đang nô đùa thỏa thích. Đúng là lúc ấy, Phạm Tăng nói đùa, nhưng lại là lúc thực lòng nói thật suy tư của anh!   
‘’Nghệ thuật hội họa khác người của tôi là do phương pháp tạo hình, tạo màu ngẫu hứng, dành phần lớn cho một tự do tự tác thành theo hứng tung hoành của khối óc và bàn tay, không  cân lượng, không thời lượng…Tôi chỉ là kẻ đắp, dán để những mầu nguyên chất và vỏ trứng gối chồng lên nhau…Đến khi các chất liệu ấy đã khô cứng, gắn kết chặt với nhau thì tôi dùng sự chà sát của bàn tay, cứ mài mài…lúc nặng, lúc nhẹ, để những chất liệu vô tri ấy bỗng lộ diện ra bởi một sinh lực huyền bí, màu nhiệm, hài hòa, mỹ thuật…mà chính tôi cũng không thể ngờ kết cục là như vậy ! Tôi coi phương pháp đó là sự thai nghén ra tác phẩm, ra đứa con tinh thần nghệ thuật của tôi. Uớc muốn của tôi là thử nắm bắt, lưu giữ lại một khoảng khắc nhỏ lúc ‘big bang’(đại bùng nổ)…nhỏ tới mức không thể cân đo, đong đếm được, nghĩa là phi vật chất, không giới hạn trong thời gian, không gian…với muôn hình, muôn màu của vũ trụ lúc sáng thế (genese)… Đấy là một lát cắt của những hạt li ti vô cùng nhỏ (infiniment petit)…chúng sinh thành trong cái vô hạn bao la (infiniment grand…)’’. Đấy là trò vui đùa của Hoá Công và của…Tôi’’.

Phạm Tăng thổ lộ trong đời anh có hai niềm vui thống khoái là hai mối tình tuyệt đối…nhưng rồi cả hai đều đã tan vỡ đau đớn bởi ngoại tâm, ngoại cảnh, tức là không do anh quyết định…nhưng chúng đã để lại trong tâm hồn anh một vết hằn, một cái sẹo cô đơn không thể nào xóa đi hoặc an ủi xoa dịu…Đó là mối tình với hội họa và mối tình với người yêu đầu đời của anh.  
‘’ Tôi đến với hội họa như kẻ ăn xin, muốn học một nghề mà tôi thích để sinh nhai…như mọi họa sĩ khác…chưa có gì là đáng kiêu hãnh, nghĩa vẽ để kiếm ăn, chứ chưa có được phong cách sáng tác gì tiêu biểu để gọi là thành danh. Còn về thơ thì thật ra chỉ là thú vui vụng về riêng lẻ để tự than thở với tôi mà thôi. Có người nói hội họa của tôi là bài thơ ca ngợi vũ trụ, còn thơ của tôi thì lại là bức tranh đầy màu sắc…Đấy là họ đã quá khen. Bởi chán nản cuộc đời nên tôi làm thơ…Bởi thất vọng cuộc đời nên tôi đã bẻ cọ, không vẽ nữa.  

Rất nhiều người muốn tìm hiểu tại sao Phạm Tăng, sau bức họa ‘vũ trụ’ có ký rõ niên biểu 1976, và rồi từ ấy anh không còn sáng tác nữa…thỉnh thoảng chỉ vẽ vài bức chân dung vì nể tình mà thôi…
 Tôi đã cố cật vấn trong những lúc tâm sự vụn với anh để tìm hiều tại sao anh không sáng tác nữa. Thoạt đầu anh giải thích rằng với bức tranh mà người ta đặt tên là bức ‘vũ trụ’…thì anh coi như đã đạt tới đỉnh của phương pháp tạo hình ấy, nên không còn có thể sáng tác ra một tác phẩm hay đẹp hơn thế. Tôi phản đối và không chấp nhận lối giải thích cái lý do khiến một họa sĩ ngưng sáng tác…như vậy. 

Cho tới một hôm, khoảng cuối thu 1981, Linda Lê, một nhà văn nữ Việt kiều bắt đầu nổi tiếng trên văn đàn Pháp với cuốn L’évangile du crime (Thánh kinh của tội ác), tìm đến xem tranh của anh…Lúc đó anh còn đang ngụ tại căn hộ ở quận 13, Paris. Linda Lê đã mê tranh của anh, đã tặng anh cuốn Solo (cô đơn) vừa mới xuất bản. Nàng như đã tìm thấy nơi anh một tâm hồn đồng điệu trong nỗi cô đơn…Bởi nàng cũng đang sống trong day dứt sau khi phải bỏ nước ra đi…Và anh đã cao hứng làm bài thơ ‘Solo’ để tặng người bạn trẻ mới quen mà đã trở thành tri kỷ. Anh đã đọc bài thơ này cho tôi nghe và giải thích rằng quả thật hai tâm hồn, tuy cách nhau về tuổi tác nhưng gần nhau vể tâm sự…Bài thơ kết thúc với hai câu: 

Người buồn nhân thế thê lương
Kẻ đau đất nước đoạn trường như nhau.

Nghe vậy, biết vậy, không mấy chú ý tới ở anh, nỗi ‘đau đất nước’ nó ‘đứt ruột’ tới mức nào. 
Nhưng rồi sau, bà chị của ‘mối tình đầu’ sang Paris thăm anh, rồi mang một số bài thơ của người em rể, về Hànội, lo xuất bản thành tập ‘Thơ Phạm Tăng’. Nhưng nhà xuất bản Văn Học đã bỏ hai câu cuối trong bài thơ đó, nên anh bực mình giải thích: ‘Họ không hiểu nổi nỗi đau đất nước đã khiến mình không còn hứng để mà sáng tác nữa...’. Đây là thứ nhì, Phạm Tăng cho biết thêm một trong những nguyên do đã làm anh mất hứng sáng tác! 
Nhân đây, cũng xin nói thêm một chi tiết về tập thơ Phạm Tăng, để hiểu rõ hơn về tính cao kiêu vời vợi của anh. Trong bài ‘Rỡn Trời’ ở trang 77, có một câu đã bị sửa khi xuất bản tại Hànội, khiến anh bực mình. Vì lời sửa đã làm mất hết ý nghĩa tư duy đùa nghịch vô thần của Phạm Tăng. Lời sửa là: "Đạo này, thuyết nọ, không’ qua lỗ mồm
Nguyên bản là:
  
Chữ Lời dệt gấm thêu hoa
Nho, Công, Thích, Mác chẳng qua lỗ mồm
  
  Anh giải thích chữ ‘Lời’ viết hoa là dịch từ Le Verbe của sách Sáng Thế Ký (Genese) của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo…Có cuộc tranh cãi rằng sách này cũng chỉ là do con người (lỗ mồm) nói ra mà thôi…tức là ông Trời cũng chỉ là do con người bày ra khi đặt tên kẻ tạo ra vũ trụ là ông Trời…Sách ấy nói rõ khi người trông thấy con gì,vật gì thì đặt tên cho nó là con ấy,vật ấy…Đây là lập luận đùa nghịch khích bác nhái lại mấy linh mục, bạn anh ở Rô-ma…Tức là Nho giáo, Công giáo, Phật giáo, Cộng sản (Mác-xít giáo) cũng chỉ là trò bày đặt của con người…Thế nên buồn đời anh làm thơ trách giỡn trời là Mây cứ y cũng có lúc buồn muốn khóc…: 

Mỗi khi vướng núi, Mây (viết hoa) buồn lại mưa !  

Càng về sau, anh càng cho biết thêm tâm trạng hụt hẫng của anh sau biến cố 30-tháng tư-1975. Bởi sau ngày ấy, có tin gia đình anh ở VN gặp đủ thứ khó khăn, nên nài nỉ anh phải làm sao vận động đưa cả nhà gồm anh em và bố mẹ ra sống ở nước ngoài. Lúc ấy, anh còn đang sống tại Rô-ma, danh tiếng đang vang dậy, lại thêm bà vợ người Ý thuộc gia đình vọng tộc, nên anh đã nhờ bộ ngoại giao Ý can thiệp hữu hiệu để đưa cả gia đình sang Ý, rồi sang Mỹ…Đây là điều có thể là đáng mừng, nhưng với Phạm Tăng thì đấy là một nỗi đau khôn nguôi, vì hòa bình đã tới quá thê thảm với đất nước làm anh vỡ mộng phũ phàng! Ít tai hiểu được lòng yêu nước, thương dân của Phạm Tăng nó nặng tình nghĩa đến mức nào. Với ai, dù thân hay sơ giao, anh cũng thường khoe gốc gác thuộc về hai nhà nho tiết tháo của vùng đất Yên Mô, Ninh Bình là cụ Phạm Bành, với cuộc khởi nghĩa Ba Đình, sau bị Pháp bắt, cụ đã tự vẫn trong tù. Còn cụ Phạm Thận Duật thì cũng vì kháng Pháp nên bị đưa đi đày…nhưng cụ chết trên tàu…và bị thủy táng, nhưng anh tin là cụ đã tuẫn tiết trên đường lưu đày…Riêng anh, thì lúc còn niên thiếu, cũng từ bị cò Arnault tát tai và giam tại bót Hàng Trống, ven Hồ Gươm…Thật sự là anh Phạm Tăng có một mối thâm thù với thực dân Pháp, do vậy mà anh từ chối không muốn bạn bè tổ chức cho anh một cuộc triển lãm tại Paris…Đó cũng là thêm một lý do khiến anh không thể sống vui ở đất Pháp. Anh thú nhận cuộc đời anh là một chuỗi mâu thuẫn bất hạnh…do tính cao ngạo của anh trước những nghịch cảnh đau đớn…

Nhớ lại lúc đang cao hứng vẽ tranh cổ động tham gia kháng chiến ở vùng Nam Định thì được anh Lưu Quyên, một người bạn anh rất mến phục vì tính tình ngay thẳng…đã nhắn tin ‘đảng’ đang bắt đầu phát động phong trào chỉnh phong, loại bỏ thành phần tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ kháng chiến…và khuyên anh nên ‘dinh tê’ vào Hànội y như mấy văn nghệ sĩ ‘tạch tạch sè’ (tiểu tư sản) khác. Lại thêm lòng oán
giận trường hợp không dám dùng thuốc cao cấp để cứu mạng sống của một đứa em (do chính bs Nguyễn Danh Đàn thổ lộ)…Nên anh quyết định dinh tê theo ngả Phát Diệm…nơi anh làm quen với mấy linh mục công giáo…(để sau này lại có dịp gặp và sống với mấy tu sĩ ấy tại ở Rôma…) Rồi sau đó là gặp gỡ mối tình đầu lí tưởng và người yêu sau cũng bỏ gia đình theo anh di cư vào Nam năm 1954. Tại Sàigòn, mối tình đầu ấy đã tan vỡ rất đau đớn vì cái tính đam mê bướng bỉnh của anh. Đấy là lần vỡ mộng lớn nhất đời anh. 

Vào Sàigon, do bạn bè lôi kéo, anh làm việc cho một hãng dầu lửa với lương cao và gia nhập nhóm làm tờ nhật báo Tự Do với nhà thơ Hà Thượng Nhân, nhà văn Nguyễn Hoạt, nhà báo Như Phong…Lúc đó anh vừa có danh, vừa có tiền…Anh nổi tiếng nhờ mấy bức hí họa rất sâu sắc…được độc giả bình bàn vui vẻ. Tôi nhớ rất rõ vài bức hí họa đó, như bức vể lãnh tụ cs Hung-gia-lợi Imré Nagy bị thòng lọng treo cổ dưới cái lưỡi liềm, khi Hồng quân Xô-viết tràn vào Budapest để đàn áp cuộc nổi dậy…Một bức khác rất khôi hài là cảnh một bộ đội cs đội nón cối gầy ốm tong teo, đu bám dưới tàu lá đu đủ mà lá không gãy…Bức thứ ba thì thật là có ý nghĩa mỉa mai hết cỡ chế độ cs với  ba bức tranh cùng một cảnh ngộ, cùng một câu hỏi ‘Tại sao anh bị giam ở đây?’ : người bị nhốt đáp : ‘Tại tôi chống Cao Cuơng!’. Bức thứ hai thì lời đáp là: ‘Tại tôi ủng hộ Cao Cương!’; lời đáp ở bức thứ ba là: ‘Tại tôi là Cao Cương! Ghi chú: Cao Cương là nhà bất đồng chính kiến với đảng cs Tàu…!

Lúc cuối trào tổng thống Ngô Đình Diệm, tờ Tự Do bị coi là có xu hướng chống đối, nên bị cải tổ, và có vài người bị tạm giam để điều tra, trong đó có Phạm Tăng…Sau tất cả bị đưa ra tòa và anh được trắng án. Có tin là tại anh là tác già bức hí họa số báo xuân với quả dưa hấu bị ba con chuột đang đục khoét…mà lật ngược bức tranh là thấy rõ có hình nước Việt, chữ S. Thực ra anh không phải là tác giả bức hí họa ấy. Nhưng bạn bè và anh thấy vẫn bị theo dõi. Nhân có học bổng cho sang Ý để quan sát về hội họa Ý. Bạn bè đẩy anh đi. Học bổng ấy chỉ cấp từng năm, nhưng anh không muốn về…nên cứ mỗi năm lại phải ghi tên để xin  học thêm một môn khác…Lần lượt anh học về trang trí kiến trúc, trang trí nội thất, vẽ hình mẫu dụng cụ, vẽ thời trang…

phảng phất nét trang trí…

Nhưng anh không ưa những phương pháp vẽ hàn lâm máy móc ấy. Anh cố suy nghĩ tìm tòi để có được một phương pháp tạo hình mới mẻ. và anh đã tìm thấy nó khi thử kết hợp hai phương pháp sơn dầu của phương Tây với phương pháp sơn mài của ta…Anh đã say mê phương pháp tạo hình mới mẻ ấy. Những bức tranh không đề, không khung, không đầu, không đuôi ấy đã được giới hội họa Ý đón nhận nồng nhiệt với những lời ca ngợi của những nhà phê bình có uy thế nhất tại Ý và trên thế giới. Vẽ xong bức nào là có tay tài phiệt Ý tới thỉnh đi ngay. Anh bắt đầu thử tài với những cuộc triển lãm ở Bỉ, ở Brazil, ở California, ở New York…Có lần anh chỉ được cho triển lãm ké với một họa sĩ nổi danh khác, nhưng rồi báo chí chỉ nói về mấy bức tranh của anh mà quên hẳn vị họa sĩ nổi danh kia. Rõ ràng là anh đang trên đường thành công, thành danh vang dậy…   

Nhưng sau thì bỗng nhiên anh đã rời bỏ tất cả, bỏ vẽ, bỏ nước Ý ra đi…Tại sao???  
Anh đang sống trong một thứ lâu đài huy hoàng của gia đình bà vợ Ý, ngay giữa thủ đô Rô-ma. Anh đang hang say sang tác. Nhưng có lẽ ông Trời đã ghen tức với anh? Bỗng bà vợ qua đời vì bệnh nan y. Đứa con gái duy nhất của anh cũng bị khủng hoảng tâm thần nặng. Rồi lại xảy tới ngày Saigon thất thủ…gia đình anh ở quê nhà kêu cứu…Hai biến cố động trời ấy đã đốn ngã tính kiêu hãnh của anh. Anh cảm thấy danh vọng tiếng tăm của anh chỉ là thứ phù du…anh không còn muốn gặp gỡ ai nữa. Chung quanh anh chỉ toàn là xa lạ…Thiên hạ muốn khai thác anh, chứ không chút thân tình. Muốn có một bạn tri âm để tâm sự cũng không có. Để giải khuây, anh qua Paris, nơi anh gặp nhiều bạn bè Việt. Anh tìm thấy ở đây một sự đầm ấm, thận cận y như ở quê nhà…Và anh quyết định rời bỏ Rô-ma! 
Ở Paris, anh tìm thấy một thú vui rất bình dân của dân Paris: thú đánh cá ngựa, rất hợp với đam mê đỏ đen của anh. Ở Paris có hàng chục tờ báo chuyên bình bàn về các độ cá ngựa diễn ra hằng ngày trên lãnh thổ Pháp. Nghiên cứu về các độ cá ngựa là cả một thứ tìm tòi thông minh nên nó giúp anh quên mọi nỗi u buốn ám ảnh…và rồi anh trúng lớn…! Anh mua nhà ở quận 13, ngay giữa hang ổ của Việt kiều. Tại đó, từ đó bạn bè đến với anh nhiều vô kể. Những bạn cố tri ở trong nước mỗi lần qua Paris đều tới ở nhà anh. Tại đây, tôi đã gặp các văn, thơ, nghệ sĩ nổi danh như Huy Cận, Xuân Diệu, Hữu Ngọc, Phan Kế An...

Nhung rồi cá ngựa đã từ từ phản anh, lấy lại những gì anh đã được…Lúc này ở quê nhà đã bước vào thời ‘đổi mới’, văn nghệ sĩ trong nước nay có tiền rủng rỉnh, sang Paris họ ở khách sạn, ít còn tới anh…Khi anh lập gia đình và dọn về khu ngoại ô Bonneuil thì bạn bè lại càng thưa đi nhiều. 
Buồn tình đời anh chỉ còn thú vui cá ngựa, lai rai làm thơ và hút thuốc lào…Cũng may là vào buổi chiều của cuộc đời anh may mắn có được bà vợ đài các đảm đang chăm sóc anh…trong khung cảnh gia dình nhung lụa đầm ấm.
Nhưng rồi chung số phận của mọi tuổi già, anh chị và anh phải vào sống tại bệnh viện lão khoa Charles Foix. Rồi anh lặng lẽ ra đi…và tro tàn đành tạm gửi lại quê người. 

Tôi nói tro cốt của anh tạm nằm lại quê người, vì tôi biết rõ chính anh đã mưu tính về sống vĩnh viễn tại nơi đất quê cha Yên Mô, nơi anh đã chỉ cho tôi thấy rõ trong ảnh, căn nhà họ tộc của anh nay chỉ còn lại cái nền gạch trơ trọi.
Năm 1994, sau khi về thăm lại thôn cũ, vườn xưa, anh đã vui mừng khoe với tôi rằng khi tới thăm chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, ông này đã hứa sẽ giúp đỡ, nếu anh muốn, thì sẽ dành một căn nhà cho anh làm nơi lưu niệm một số tranh tiêu biểu của hội họa Phạm Tăng, đứa con danh tiếng quốc tế của đất Ninh Bình. 

Sau đó về lại Paris, anh hăng hái chuẩn bị một hồ sơ về hội họa Phạm Tăng mà trọng tâm là bức danh họa ‘vũ trụ’ cùng một album video ghi lại hầu hết các bức tranh hiện đang do mấy tài phiệt Ý lưu giữ ở Rôma. Album video này sẽ do anh Huỳnh Tâm và tôi qua Ý cùng anh để ghi hình…Anh còn có dự tính sẽ chuộc lại vài bức để cùng mang về nhà lưu niệm ở Ninh Binh.
 
Trong khi chờ đợi đi Ý, anh Huỳnh Tâm và tôi đã ghi hình những gì anh đang giữ ở Bonneuil…để hoàn thành nòng cốt cho cuốn Album sẽ xuất bản trên giấy, cùng với một đĩa video. 
Rồi anh đã trở về thăm quê hương một lần nữa và là..lần chót. Sau đó trở lại Paris, anh buồn bực báo cho tụi tôi biết, anh đã bỏ ý định lập nhà lưu niệm hội họa Phạm Tăng tại Ninh Bình. 
Trước thắc mắc của tụi tôi, anh kể: lần này về gặp lại chính quyền, thì chủ tịch UBND tỉnh là một người khác. Khi gặp, anh có nhắc tới dự án lập nhà lưu niệm…thì ông chủ tịch nói rất cửa quyền nguyên văn như sau: ‘’Việc ấy chưa gấp, cứ thủng thẳng rồi ta tính. Xin lỗi anh vì hôm nay công việc rất bề bộn, nên tôi chỉ có thể tiếp anh trong mươi phút thôi!’’.  Anh Phạm Tăng cụt hứng đành chào và cám ơn xã giao ông chủ tịch vì đã dành thời giờ quí báu để tiếp anh. Sau đó về Hànội, kể lại cuộc gặp gỡ kia, thì anh em văn nghệ sĩ khuyên anh nên bỏ ý định mang tranh về tặng tỉnh Ninh Bình, vì bây giờ người ta chỉ lo tính tìm cách đẻ ra công việc để làm ra tiền thôi...  
Theo tôi thì tỉnh Ninh Bình đã bỏ lỡ cơ hội để được lãnh nhận bức danh họa Vũ trụ’. Vì đấy là một tác phẩm kiệt tác, một đời đại họa sĩ chưa chắc có thể thực hiện được một tác phẩm như thế. Các nhà phê bình hội họa thế giới đã ca ngợi nó như một đỉnh cao của nghệ thuật hội họa. Nó sẽ là cái đinh của một viện bảo tàng quốc gia y như bức La Joconde đối với viện bảo tàng Le Louvre của nước Pháp…

Kể thêm về anh Phạm Tăng như vậy, tôi nghĩ đây không còn là chuyện riêng tư. Vì đây là một vấn đề liên quan tới một kiệt tác xứng đáng được coi như một di sản của quốc gia (patrimoine).
    
 pnk